(Phần 1) Trương Tấn Sang (UVTW Đảng, Thường trực ban Bí thư)Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, có diện tích tự nhiên 28.878km2, dân số năm 2003 khoảng 6,06 triệu người, chiếm 8,4% về diện tích tự nhiên và gần 8% dân số cả nước. So với các vùng kinh tế của cả nước, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có những thuận lợi nhưng cũng còn nhiều khó khăn.
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và các nước láng giềng.
Trong vùng có nguồn tài nguyên tương đối đa dạng, phong phú, có nhiều tiềm năng về đất, biển, rừng, khoáng sản, có các di sản văn hóa được UNESCO công nhận: cố đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn, với các vịnh nước sâu Chân Mây, Liên Chiểu, Dung Quất, Nhơn Hội, gần đường hàng hải quốc tế, có đủ điều kiện xây dựng các cảng nước sâu, các khu công nghiệp và du lịch văn hóa, sinh thái.
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đã hình thành một hệ thống đô thị, trong đó có các đô thị lớn (thành phố Đà Nẵng, Huế, Quy Nhơn), các khu kinh tế quan trọng (khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất, Nhơn Hội). Hệ thống đô thị cùng với các khu công nghiệp, khu du lịch, các di sản văn hóa thế giới, là những hạt nhân tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhân dân trong vùng có truyền thống cách mạng, hiếu học và năng động, nguồn lao động dồi dào, một bộ phận có tay nghề cao, là nòng cốt để tiếp cận khoa học - công nghệ tiên tiến.
Bên cạnh những lợi thế, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cũng còn có nhiều khó khăn. Đó là hậu quả của chiến tranh để lại rất nặng nề, kinh tế - xã hội còn kém phát triển, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra. Đây là những yếu tố làm hạn chế sự thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển vào vùng.
Những năm qua, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nổi bật là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 1996 - 2000 khoảng 8,5%, giai đoạn 2001- 2004 là 9,97% (cao hơn tốc độ tăng trung bình cả nước). Trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân giai đoạn 2001- 2004 khoảng 5,4%, công nghiệp tăng 7,3%, dịch vụ tăng 10,3%.
Trong công nghiệp, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ đời sống và sinh hoạt của nhân dân đều có bước tăng khá; đây là kết quả của quá trình đầu tư mở rộng sản xuất, thay đổi thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ. Một số công trình quan trọng như đường hầm đèo Hải Vân, đầu tư nâng cấp sân bay quốc tế Đà Nẵng, sân bay Phú Bài (Huế) và sân bay Chu Lai đang được đầu tư xây dựng, đặc biệt là nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất đang được tích cực triển khai có tác dụng tạo động lực cho phát triển kinh tế toàn vùng.
Trong công nghiệp, việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra vùng nguyên liệu ổn định phục vụ công nghiệp chế biến; bộ mặt nông thôn đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công tác quản lý và bảo vệ rừng được coi trọng, đã hạn chế được cháy rừng, phá rừng. Giao đất, khoán rừng cho dân đang được đẩy mạnh. Ngành thủy sản được tập trung chỉ đạo, đã có nhiều đội tàu có công suất lớn trên 110 CV đưa vào khai thác đánh bắt hải sản xa bờ, đạt hiệu quả kinh tế cao, các khu du lịch hậu cần nghề cá, các điểm phòng, tránh bão ở cửa sông và hải đảo. Nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và cải thiện đời sống nhân dân vùng biển đảo. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm giai đoạn 2001-2004 là 5,39%.
Trong thương mại - dịch vụ, toàn vùng kinh tế trọng điểm miền Trung giữ được nhịp độ phát triển khá, 10,37% giai đoạn 2001-2004, kim ngạch xuất khẩu tăng theo từng năm. Phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên và các di sản văn hóa thế giới, đã tập trung phát triển du lịch, bước đầu đạt kết quả tốt, đưa nghành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của vùng. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đang phát triển mạnh, dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển nhanh, rộng khắp.
Trong phát triển kết cấu hạ tầng đã và đang được đầu tư, để vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trở thành một trong ba đầu mối giao thông quốc tế quan trọng của cả nước. 4 sân bay: Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Phù Cát, trong đó sân bay quốc tế Đà Nẵng đang được đầu tư mở rộng, sân bay Chu Lai đang đầu tư và phục hồi giai đoạn 1, chuẩn bị đón khách vào cuối tháng 3/2005 và đang tìm đối tác để xây dựng sân bay trung chuyển hàng hóa quốc tế. Các cảng biển như Chân Mây, Đà Nẵng, Kỳ Hà, Dung Quất, Quy Nhơn đang được đầu tư, nâng cấp, mở rộng, đảm bảo giao lưu trong nước và quốc tế. Đường sắt góp phần vận chuyển hành khách, hàng hóa đến vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và từ đây đến mọi miền Tổ quốc. Các công trình thủy lợi đang phát huy hiệu quả, tạo điều kiện mở rộng diện tích, tăng vụ và cải thiện môi trường sinh thái. Hệ thống hồ chứa nước lớn đã và đang thi công sẽ góp phần giảm lũ, hạn chế ngập lụt như: hồ Truồi (Thừa Thiên Huế), hồ Việt An, Phú Ninh (Quảng Nam), Thạch Nham, Nước Trong (Quảng Ngãi), thủy diện Bình Điền, Hữu Trạch (Thừa Thiên Huế), A Vương (Quảng Nam), Bình Định (Bình Định),…Hệ thống lưới điện quốc gia ngày càng được mở rộng, tỷ lệ hộ dùng điện mỗi ngày một tăng cao…
(Theo cuốn Khát vọng miền Trung-NXB Lao động.2006)