Phần cuối.
Ông Trương Tấn Sang (UVTW Đảng, Thường trực ban Bí thư) Các vấn đề xã hội trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cũng được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đặc biệt quan tâm. Đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nhân dân trong vùng dần dần được cải thiện...
Cơ sở giáo dục, y tế được tăng cường với chất lượng ngày càng tốt hơn, tỷ lệ học sinh đến tuổi đi học ngày càng tăng, 2/3 số xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cấp cơ sở. Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và điều trị bệnh cho cộng đồng ngày càng được tăng cường, chương trình xóa đói giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách đối với người có công với nước, phong trào vận động xây dựng “Quỹ vì người nghèo”, “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”, phòng chống bão lụt đạt kết quả khá. Trong năm 2004, toàn vùng đã có khoảng 100.000 lao động được giải quyết việc làm. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện như chăm sóc người tàn tật, nạn nhân chất độc da cam, người cô đơn, trẻ em mồ côi, xóa nhà tranh cho hộ nghèo…được tập trung chỉ đạo đạt kết quả tốt.
Tuy nhiên, những kết quả đạt được kể trên còn thấp so với tiềm năng và lợi thế của vùng. Để vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trở thành một trong những vùng phát triển năng động của cả nước, bảo đảm vai trò hạt nhân tăng trưởng thúc đẩy phát triển của khu vực, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để đạt được các chỉ tiêu kinh tế- xã hội cơ bản sau đây:Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt khoảng 1,2 lần, giai đoạn 2011- 2020 đạt khoảng 1,25 lần trở lên tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước. Tăng tỷ lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước từ 5% hiện nay lên cao hơn đến năm 2010 vào năm 2020.Tăng giá trị xuất khẩu bình quân đầu người /năm từ 149 đô la Mỹ năm 2005 lên 375 đô la Mỹ năm 2010 và 2.530 đô la Mỹ vào năm 2020.Tăng mức đóng góp của vùng trong ngân sách của cả nước từ 4,6% năm 2005 lên cao hơn đến năm 2010 và năm 2020.Đẩy nhanh tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20%/năm trong tiến trình hiện đại hóa, nâng cao dần tỷ lệ lao động qua đào tạo đến 2010 đạt khoảng 50%.Đến năm 2010 đạt tỷ lệ đô thị hóa của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là 40%. Giảm và giữ tỷ lệ lao động không có việc làm xuống 5%, phấn đấu mỗi năm tạo ra hơn 60-70 nghìn chỗ làm việc mới.Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo từ 15,5% năm 2005 xuống dưới 8,8% năm 2010 và khoảng 2% năm 2020 (theo tiêu chí hiện hành).Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội và môi trường bền vững ở đô thị và nông thôn.Để đạt được các mục tiêu trên, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung phải được tập trung đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đồng bộ, trong đó chú trọng:- Đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng khu kinh tế mở Chu Lai (tỉnh Quảng Nam), khu kinh tế Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi), khu kinh tế - thương mại Chân Mây (tỉnh Thừa Thiên Huế), khu kinh tế Nhơn Hội (tỉnh Bình Định) và các khu công nghiệp tập trung khác để đến năm 2010 các khu kinh tế này trở thành những hạt nhân, trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của vùng.- Tập trung đầu tư xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố biển, trung tâm của miền Trung, với các nhiệm vụ cơ bản như trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch, vận tải hàng hóa, trung tâm tài chính, ngân hàng, chứng khoán và bưu chính viễn thông; trung tâm văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ của vùng; là địa lý quan trọng về quốc phòng, an ninh khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước.- Xây dựng và phát triển các khu kinh tế lớn như Chu Lai, Dung Quất, Chân Mây, Nhơn Hội với phương châm thử nghiệm, chính sách mới tạo môi trường đầu tư, phù hợp các thông lệ quốc tế cho các loại hình kinh doanh của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, qua đó có thêm kinh nghiệm cho hội nhập kinh tế quốc tế. Áp dụng các mô hình thí điểm tạo động lực mới cho phát triển kinh tế, trong khi chưa có điều kiện thực hiện trên phạm vi cả nước.- Khu kinh tế mở Chu Lai bao gồm các khu vực chủ yếu là: khu thương mại tự do gắn với một phần cảng Kỳ Hà. Hoạt động của khu này gồm các hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu và hàng phục vụ tại chỗ, thương mại hàng hóa, các hoạt động dịch vụ, xúc tiến thương mại, các khu công nghiệp, các khu giải trí, du lịch, khu dân cư chính.- Đẩy nhanh sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất làm động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa miền Trung và cả nước. Xây dựng và phát triển khu kinh tế Dung Quất trở thành một khu kinh tế tổng hợp đa ngành với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Phát triển công nghiệp lọc dầu - hóa dầu. Phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, đóng, sửa chữa tàu biển, luyện cán thép, sản xuất xi măng, sản xuất container, sản xuất hàng tiêu dùng, từng bước xây dựng thành phố Vạn Tường theo hướng hiện đại.- Tập trung đầu tư khu kinh tế tổng hợp Nhơn Hội (tỉnh Bình Định), phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp vật liệu xây dựng, cơ khí đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, điện tử và vật liệu điện, công nghiệp dệt da, may mặc xuất khẩu, xây dựng tổng kho trung chuyển, khu đô thị mới hiện đại ven biển, nâng cấp cảng Quy Nhơn phát triển dịch vụ cảng.- Khu kinh tế Chân Mây (tỉnh Thừa Thiên Huế), cần tập trung phát triển trong giai đoạn 2006 - 2010. Xây dựng trung tâm thông tin quốc tế, cùng hệ thống dịch vụ như thương mại, du lịch, tài chính ngân hàng và các ngành nghề khác với trình độ và văn minh thương mại cao. Sớm phát triển khu công nghiệp Chân Mây và thành phố mới Chân Mây.- Đẩy mạnh cải cách hành chính tạo điều kiện thông thoáng nhằm hỗ trợ sự phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn. Đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tăng cường đầu tư chiều sâu hệ thống các trường Đại học, các cơ sở nghiên cứu khoa học trên địa bàn, phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội. gắn hoạt động nghiên cứu với sản xuất của nhân dân và hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn. Phối hợp với các cơ sở nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến.- Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đầu tư thích hợp để các trường đại học ở Đà Nẵng, Huế, Quy Nhơn trở thành cơ sở đào tạo đa ngành, là trung tâm nghiên cứu khoa học phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực miền Trung. Từng bước nâng cấp các trường đại học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, xây dựng trường Đại học Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi) vào năm 2010.Đào tạo lực lượng lao động lành nghề, phấn đấu đến năm 2005 tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề và hướng nghiệp là 13 -15% và đến năm 2010 đạt 18 - 20%. Tiến hành quy hoạch, sắp xếp hệ thống mạng lưới trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn phù hợp với yêu cầu cơ cấu nhân lực và phát triển kinh tế vùng. Xây dựng một số trung tâm dạy nghề kỹ thuật cao nhằm đào tạo công nhân kỹ thuật cho các khu công nghiệp. Trước mắt, đầu tư trang thiết bị cho các trường dạy nghề; chuẩn bị triển khai xây dựng trường dạy nghề kỹ thuật cao do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ.Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển nhanh và bền vững. Thời gian tới, với quyết tâm cao của các Đảng bộ tỉnh, thành phố trong vùng, với truyền thống dũng cảm, cần cù, sáng tạo của nhân dân, cùng với sự tập trung chỉ đạo của Trung ương, các bộ, ngành, nhất định kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung sẽ có bước phát triển nhanh, tương xứng với tiềm năng lợi thế của mình.
(Theo cuốn Khát vọng miền Trung - NXB Lao động.2006)