Chiến lược phát triển công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu quan niệm rằng thị trường nội địa là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước trong giai đoạn đầu của tiến trình phát triển kinh tế quốc gia.
Ưu thế của chiến lược này - đặc biệt đối với những quốc gia đông dân và giàu tài nguyên - là quá trình công nghiệp hóa được thực hiện sau (late industrialization), tức là nước đang phát triển có thể du nhập công nghệ hiện đại từ các nước công nghiệp phát triển cho việc sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của các ngành công nghiệp trong nước, đồng thời tận dụng được quy mô lớn của thị trường nội địa để thúc đẩy trở lại quá trình công nghiệp hóa.
Bên cạnh những điều kiện về vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, một trong những yếu tố quyết định cho việc thành công của chiến lược này là có một thị trường tiêu thụ nội địa rộng lớn với những công dân yêu nước sẵn sàng tiêu thụ sản phẩm được sản xuất trong nước mà không quan tâm đến giá cả hay chất lượng.
Khẩu hiệu người trong nước dùng hàng trong nước nhiều khi không chỉ là lời kêu gọi, động viên. Các chính phủ có thể chuyển khẩu hiệu này thành hành động mang tính cưỡng bách, ví dụ Hàn Quốc trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước đã áp dụng các biện pháp khuyến khích và trừng phạt khá cực đoan để buộc người dân trong nước phải mua hàng trong nước mà không có sự lựa chọn khác.
Khi nền thương mại toàn cầu chưa phát triển rộng rãi và khi chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch còn được sử dụng phổ biến như một tấm lá chắn cho công nghiệp bản xứ, chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã có những thành công nhất định, đặc biệt tại những nước châu Mỹ Latin vốn là cái nôi của lý thuyết này. Tuy nhiên, điểm yếu của chiến lược này là nó cần một chính sách bảo hộ mạnh mẽ, quyết liệt, trong khi xu thế này lại đang ngày càng suy yếu theo đà phát triển của toàn cầu hóa thương mại.
Mặt khác, bảo hộ không đưa đến một sự chọn lọc hiệu quả mà bất cứ nền kinh tế cũng cần để phát triển, các xí nghiệp được bảo hộ mặc dù hoạt động kém cỏi và lãng phí vẫn tiếp tục tồn tại tuy không còn năng lực cạnh tranh trên thị trường, trong khi đó người tiêu dùng trong nước ngày càng bị thiệt thòi vì phải tiêu thụ hàng nội địa với giá cao và chất lượng xấu, đồng thời vẫn phải tiếp tục đóng thuế để nuôi những xí nghiệp này, để họ có thể tiếp tục sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ với chất lượng xấu và giá cao.
Việc kêu gọi dùng hàng nội đang lan rộng hiện nay trên nhiều nước, có cả Mỹ, có vẻ là một phản ứng tình thế trong thời kỳ khủng hoảng hơn là một xu thế toàn cầu, vì trên thực tế, tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu có thể đang chậm lại chứ không thể bị đảo ngược do tác động của khủng hoảng. Tuy nhiên ngay cả khi nền kinh tế thế giới đã hoàn toàn hội nhập, việc người trong nước ưu tiên dùng hàng trong nước, xét trên nhiều khía cạnh, là một việc hợp lý, đúng đắn, tiết kiệm, phù hợp với kinh tế học và luôn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh kinh tế, không chỉ trong thời kỳ khủng hoảng.
Dùng hàng trong nước không chỉ là trách nhiệm của người dân - trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế của đất nước mình, trách nhiệm đối với việc duy trì công ăn việc làm của đồng bào mình - mà còn là quyền lợi thực sự của bản thân người tiêu dùng. Người tiêu dùng khi mua hàng trong nước cũng là giúp cho chính bản thân mình có công ăn việc làm.
Xét về mặt kinh tế, hàng hóa sản xuất trong nước luôn có ưu thế tự nhiên so với hàng nhập khẩu về mặt giá phí: phí tổn vận chuyển thấp hơn, tiền công lao động rẻ hơn, chi phí thuê mướn mặt bằng thấp hơn, ngay cả công nghệ vẫn có điều kiện có được công nghệ hiện đại hơn vì là nước công nghiệp hóa sau.
Như vậy, nếu có yếu tố nào khác làm tăng giá phí ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm thì thường là do những nguyên nhân ngoài sản xuất như: thuế cao, lãi suất ngân hàng cao cùng các chi phí không đáng có mà doanh nghiệp phải trả liên quan đến thời gian và tiền bạc phát sinh từ một bộ máy hành chính không hiệu quả. Như vậy, nếu các yếu tố khác không đổi, mua hàng trong nước là lợi ích của người tiêu dùng trong nước vì giá cả phải thấp hơn.
Về mặt chất lượng hàng hóa, không có lý do thuyết phục nào cho thấy sản phẩm và dịch vụ nội địa phải kém chất lượng hơn sản phẩm nhập khẩu. Và cũng không phải doanh nghiệp là người chịu trách nhiệm duy nhất nếu hàng hóa do họ sản xuất ra bị kém chất lượng.
Đây không phải chỉ là vấn đề quy trình công nghệ (là nước công nghiệp hóa sau sau - late late industrialization - chúng ta có điều kiện để mua thiết bị mới nhất với công nghệ hiện đại nhất), hay kỹ năng quản lý sản xuất (chúng ta không thiếu điều kiện để đào tạo và sử dụng một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp) hay một kỷ luật lao động công nghiệp truyền thống và chuyên nghiệp (một vấn nạn đối với một nước từ nông nghiệp đi lên), mà còn là vấn đề cam kết và giữ cam kết, trách nhiệm và thực thi trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng.
Đó còn là vấn đề đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ dân trí cao (kết quả của một hệ thống giáo dục tốt) và trên hết là trách nhiệm chung của cộng đồng với sự tham gia và điều hành hiệu quả, công bằng và chính trực của bộ máy hành chính, của hệ thống pháp luật và chấp hành luật pháp, của nền tảng đạo đức và thực thi đạo đức - sự phán xét của tòa án và sự phán xét của lương tâm - nhằm bảo vệ người tiêu dùng qua việc áp dụng công bằng và nghiêm minh các chuẩn mực hàng hóa, chống tệ nạn sản xuất hàng gian, hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng gây thiệt hại lớn lao cho người tiêu dùng mà trường hợp sữa kém chất lượng, phân bón giả tràn lan trên thị trường vừa qua là những ví dụ điển hình.
Thương hiệu sản phẩm trước hết phải là một cam kết đầy trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng trên thị trường trong nước, đồng thời toàn thể cộng đồng cũng phải có nghĩa vụ khuyến khích và bắt buộc doanh nghiệp thực hiện cam kết này.
Trong một thế giới hội nhập, khi các chính phủ đã mất dần đặc quyền sử dụng chính sách bảo hộ để hỗ trợ công nghiệp bản xứ, sự tự nguyện của người dân dùng hàng trong nước là yếu tố thuận lợi hơn. Nhưng như trên đã giải thích, về lâu dài, điều này phải là một quyết định rất kinh tế, rất hiệu quả của người tiêu dùng trong nước, họ mua hàng trong nước vì giá rẻ hơn và chất lượng tốt tương đương hàng nước ngoài.
Nhà sản xuất trong nước dễ dàng thấy rằng các sản phẩm tốt do họ làm ra luôn luôn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước: các ưu thế như sản xuất cho thị trường tại chỗ, công nghệ hiện đại, chi phí cho lao động thấp luôn luôn giúp cho hàng sản xuất trong nước có lợi thế cạnh tranh thuận lợi hơn so với hàng nhập khẩu vốn được sản xuất từ một nơi xa xôi, với lao động giá cao và công nghệ thường cũ hơn. Nhưng kỹ năng quản lý và tác phong làm việc công nghiệp là điều mà các doanh nghiệp bản xứ phải quan tâm nhiều hơn để đảm bảo sản xuất sản phẩm vừa có chất lượng tốt, ổn định, vừa có giá cạnh tranh.
Vai trò Nhà nước là quyết định để lời kêu gọi người Việt ưu tiên dùng hàng Việt trở thành hành động thực tiễn và rộng rãi của toàn thể cộng đồng. Với tư cách người tiêu dùng lớn nhất và cần tiết kiệm nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động của doanh nghiệp và số lượng công ăn việc làm trong toàn nền kinh tế, Nhà nước cần nêu gương đi đầu trong việc thực thi khẩu hiệu này bằng cách chỉ thị cho bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ưu tiên tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ được sản xuất và cung ứng trong nước.
Mặt khác, với tư cách là người điều hành đất nước, Nhà nước cần có những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp hướng đến một nền kinh tế giá phí thấp, như thuế suất thấp, lãi suất ngân hàng thấp, giá phí các tiện ích và dịch vụ công thấp… nhằm giúp doanh nghiệp sản xuất hàng với giá thành thấp và chất lượng cao. Một bộ máy hành chính năng động và trong sạch là yếu tố thực sự tích cực trong việc xây dựng nền kinh tế chi phí thấp.
Tuy nhiên lời kêu gọi người Việt dùng hàng Việt không nên là tiếng pháo lệnh báo hiệu việc quay trở lại chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu dựa vào thị trường nội địa và chính sách bảo hộ vô điều kiện. Đó không phải là một kế sách phát triển bền vững và hữu hiệu. Nếu người tiêu dùng Việt Nam nên hành động theo câu ca dao nổi tiếng “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, thì doanh nghiệp Việt Nam lại càng phải vươn mình ra biển lớn để tồn tại và lớn mạnh; Nhà nước Việt Nam vẫn cần theo đuổi quốc sách phát triển kinh tế đất nước bằng con đường xuất khẩu.
Đó là con đường phát triển kinh tế duy nhất hiệu quả, vì chính yêu cầu sản xuất sản phẩm bán được trên thị trường thế giới cũng đủ khiến doanh nghiệp phải làm hết sức mình để hoạt động hiệu quả hơn, có lợi thế cạnh tranh tốt hơn, và Nhà nước cũng phải làm hết sức mình để xây dựng một nền kinh tế có chi phí thấp hơn và vận hành hiệu quả hơn. Sử dụng các nguồn lực hiệu quả và tiết kiệm không chỉ là một mệnh lệnh trước mắt mà còn quyết định tương lai phát triển lâu dài và bền vững cho toàn nền kinh tế.
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần